Hotline: 0904809678 | 0439939982

Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm


TS. TRIỆU QUỐC LỘC
Viện N/c KHKT Bảo hộ lao động Một trong những vấn đề trọng tâm của quản lý và kiểm soát an toàn là giám sát và đánh giá an toàn các đối tượng (bao gồm thiết bị, máy móc, quá trình công nghệ, công việc và NLĐ) trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Tuy nhiên vấn đề này lại đang tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định do phương pháp và công cụ giám sát, đánh giá an toàn sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay không còn phù hợp với thực tế sản xuất, cũng như khả năng phòng ngừa sự cố, tai nạn thấp.

Để đánh giá an toàn sản xuất (máy móc, thiết bị và quá trình công nghệ), có thể sử dụng những phương pháp khác nhau như phương pháp “cây sai phạm”; phương pháp “phiếu kiểm tra”; phương pháp “đánh giá phân loại theo thang điểm” (đề tài KX07-15, Viện BHLĐ, giai đoạn 1991-1995)…, nhưng nhìn chung các phương pháp này trong quá trình áp dụng thực tế đều bộc lộ những hạn chế như tính khả thi trong áp dụng đại trà không cao, hoặc khả năng và hiệu quả phòng ngừa tai nạn thấp v.v. Thí dụ như phương pháp “cây sai phạm”, đây là phương pháp đánh giá an toàn sản xuất mang tính tổng hợp, tuy nhiên để có thể áp dụng phương pháp này một cách phổ biến trong điều kiện thực tiễn sản xuất ở nước ta là không dễ, thậm chí có những hạn chế không thể khắc phục được. Thật vậy, nguyên tắc chung của phương pháp này là dựa trên đánh giá các đối tượng thiết bị, máy móc hoặc quá trình công nghệ một cách tổng hợp ở tất cả các khâu, từ giai đoạn thiết kế, chế tạo, lắp đặt đến vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng. Như vậy, để đánh giá mức độ an toàn của một đối tượng trong sản xuất đòi hỏi một mặt phải có đầy đủ các thông tin, dữ liệu kỹ thuật về đối tượng đánh giá ở toàn bộ các giai đoạn, mặt khác cũng rất quan trọng là cần phải có đầy đủ thiết bị, máy móc với độ chính xác cao để đo đạc, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại cần xác định đánh giá; hơn nữa cần phải có một đội ngũ chuyên viên giỏi, có trình độ kiến thức sâu trong từng lĩnh vực khác nhau. Trong khi đó, thực tế thiết bị, máy móc trong sản xuất ở nước ta lại phổ biến thuộc thế hệ máy cũ, thậm chí từ những năm 1980-1990 của thế kỷ trước, đặc biệt rất đa dạng về chủng loại và do nhiều nước chế tạo; hồ sơ lý lịch máy hầu như không quản lý được. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý nhà nước về AT-VSLĐ nói chung và giám sát ATLĐ nói riêng lại quá mỏng, chưa đủ khả năng để áp dụng những phương pháp trên trong điều kiện sản xuất ở nước ta hiện nay. Bộ máy hiện nay có lẽ chỉ đáp ứng cho công tác kiểm định hoặc giám định an toàn và cũng chủ yếu chỉ dừng lại đối với các thiết bị, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ.
Mặt khác, hiện nay khái niệm về an toàn đã có nhiều thay đổi mang tính bản chất rõ rệt. Thay vì khái niệm an toàn được xem là tuyệt đối như trước đây, thì hiện nay an toàn được định nghĩa là sự không có những “rủi ro không thể chấp nhận được” (theo tiêu chuẩn TCVN 6450:1998-ISO/IEC Guide 2: 1996) và do đó vấn đề an toàn được đặt ra ở đây là xác định các “rủi ro cho phép” hay còn gọi là mức cân bằng tối ưu giữa an toàn tuyệt đối lý tưởng với các yêu cầu được đáp ứng bởi thiết bị, máy móc, quá trình công nghệ… trên cơ sở đánh giá rủi ro (phân tích và định giá rủi ro) với các bước từ nhận biết mối nguy hiểm (bao gồm cả tình trạng nguy hiểm và sự kiện nguy hiểm) có thể nảy sinh trong quá trình sản xuất, đến ước lượng và đánh giá rủi ro phát sinh từ những nguy cơ đã xác định. Như vậy, có thể thấy phương pháp giám sát, đánh giá an toàn theo hiện trạng mà hiện nay chúng ta đang sử dụng là hoàn toàn không còn thích hợp, mà thay vào đó cần phải nghiên cứu và áp dụng những phương pháp giám sát, đánh giá an toàn theo nguy cơ, rủi ro xảy ra các sự cố, tai nạn.
Nội dung phương pháp “giám sát an toàn sản suất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm”
Cơ sở phương pháp luận
An toàn và TNLĐ là hai mặt đối lập của quá trình sản xuất, chúng luôn song song tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau, khi TNLĐ cao thì mức độ an toàn của sản xuất là thấp và ngược lại. Chính vì vậy để quản lý an toàn cho một đối tượng trong sản xuất (máy móc, thiết bị và quá trình công nghệ), có thể hoặc là thông qua đánh giá, kiểm soát mức độ an toàn của đối tượng. Tuy nhiên việc đánh giá, kiểm soát tình hình TNLĐ xảy ra ở đối tượng thường có hạn chế lớn là những số liệu đánh giá chỉ thuần túy mang tính thống kê, không xét tới quá trình tích lũy tiềm tàng dẫn tới các tai nạn. Từ những phân tích trên, cũng như dựa trên quan điểm hiện nay về an toàn, một phương pháp mới để đánh giá an toàn sản xuất phù hợp hơn đã được nghiên cứu đưa ra, đó là phương pháp “Giám sát an toàn sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm”. Phương pháp này đã bước đầu áp dụng khá thành công trong quá trình khảo sát đánh giá tình hình an toàn sản xuất của 10 CSSX công nghiệp điển hình ở khu vực phía Bắc, cũng như vận dụng trong các luận văn tốt nghiệp của các khóa sinh viên Khoa BHLĐ, Trường Đại học Công đoàn.
Trước hết, cơ sở phướng pháp luận của phương pháp nêu trên là dựa trên việc giám sát an toàn của đối tượng, thông qua đánh giá trực tiếp chỉ thị an toàn với nguyên tắc: nguy cơ sự cố, TNLĐ tối thiểu - an toàn sản xuất tối đa và như vậy là hoàn toàn phù hợp với quan điểm về an toàn hiện nay. Hơn nữa, đây còn là một xu thế chung và khá phổ biến nhằm phát hiện sớm các trạng thái nguy hiểm gây TNLĐ và đặc biệt có ý nghĩa tích cực trong việc góp phần ngăn ngừa TNLĐ trong sản xuất ở nước ta hiện nay.
Tóm lại, có thể nói “Giám sát an toàn sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm” là phương pháp đánh gía tình hình an toàn sản xuất theo nguy cơ rủi ro và việc áp dụng phương pháp này khá đơn giản, phù hợp đối với bất kỳ loại hình sản xuất nào, đồng thời không những cho phép đánh giá chung, tổng hợp tình hình an toàn của toàn bộ CSSX, mà còn có thể đánh giá mức độ an toàn của CSSX theo từng lĩnh vực cụ thể như: an toàn cơ học; an toàn điện; an toàn hoá chất v.v.. một cách định lượng (tỷ lệ phần trăm, chủng loại và số lượng máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… không đảm bảo an toàn) làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và biện pháp khắc phục, đảm bảo an toàn sản xuất một cách chủ động và phù hợp với tình hình thực tế của từng CSSX.
Nguồn: nilp.org.vn

Kiểm soát các nguy cơ - Cần nắm vững kiến thức cần thiết

Công tác bảo hộ lao động trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi nhằm cải thiện tình hình báo động đỏ về tai nạn lao động.
Trước khi phát hiện và đánh giá được nguy cơ, người lao động chưa thể được bảo vệ. Sau đó, nhiều phương pháp bảo vệ người lao động mới có thể được đưa ra - gọi là “biện pháp kiểm soát”. Có ba loại biện pháp kiểm soát:

- Kiểm soát công nghệ;
- Kiểm soát hành chính;
- Phương tiện bảo vệ các nhân.

Tất cả ba loại biện pháp kiểm soát trên có thể được sử dụng kết hợp với nhau, nhưng ưu tiên bao giờ cũng được dành cho các biện pháp kiểm soát công nghệ trước các biện pháp khác. Các biện pháp hành chính và phương tiện bảo vệ các nhân không nên đưa vào sử dụng, trước khi cố gắng sử dụng các biện pháp kiểm soát công nghệ, hoặc không thể kiểm soát được công nghệ.

Các biện pháp kiểm soát công nghệ

Các biện pháp kiểm soát công nghệ được coi là tốt nhất bởi vì chúng loại trừ được nguy cơ và khả năng phơi nhiễm của người lao động với nguy cơ đó. Các biện pháp kiểm soát công nghệ trực tiếp giải quyết mối nguy cơ và không phải phụ thuộc vào hành động của người lao động mới có thể có hiệu quả. 
Các biện pháp kiểm soát công nghệ bao gồm:

Ÿ* Thiết kế lại quy trình, như:
-   Thay thế mô-tơ dùng xăng bằng mô-tơ dùng điện để tránh khí thải;
-   Lắp đặt thiết bị cấp nguyên liệu tự động để bảo vệ bàn tay;
-   Sử dụng phương pháp làm ướt để giảm mức độ gây bụi;
*  Cơ khí hóa quy trình, như: hệ thống dây chuyền để loại trừ khả năng gây bụi do xúc bằng xẻng;
* Thay thế các sản phẩm có nguy cơ bằng những sản phẩm an toàn hơn, như:
- Sử dụng hóa chất ít độc hại, ít bụi và ít bay hơi hơn;
- Thay thế các thiết bị cũ kỹ bằng thiết bị mới hơn có lắp sẵn hệ thống bảo vệ;
* Cách ly quy trình hoặc cách ly người lao động khỏi quy trình, như:
-  Lắp đặt hệ thống chống ồn cho những thiết bị gây ồn;
-  Xây phòng điều khiển nơi người lao động có thể được bảo vệ chống lại tiếng ồn, nhiệt độ và giải phóng hơi độc hại;
*Lắp đặt “hệ thống thông gió cục bộ”, như:
-  Hệ thống thông khí lắp đặt ngay trên thùng cấp nhiên liệu;
-  Hàn bàn máy và trạm làm việc để loại trừ ngay nguy cơ có trong không khí ngay từ nơi chúng được tạo ra.
Lợi thế của các biện pháp kiểm soát công nghệ là ở chỗ chúng loại trừ được nguy cơ và khả năng phơi nhiễm của người lao động với nguy cơ đó. Nhưng có một số bất lợi hoặc vấn đề của kiểm soát công nghệ. Các bất lợi đó gồm:
-  Các biện pháp kiểm soát công nghệ có thể rất đắt tiền và nhà sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhỏ thấy khó khăn trong lắp đặt;
-  Một số nguy cơ không có giải pháp công nghệ vào thời điểm này;
-  Lắp đặt hệ thống rào cản hoặc cách ly nguy cơ không loại trừ được mối nguy cơ đó, nên người lao động vẫn có thể phơi nhiễm trong trường hợp tai nạn hoặc rò rỉ;
-  Việc thay thế một hóa chất hay một cỗ máy mới sẽ làm cho người lao động phơi nhiễm với nguy cơ mới;
-  Các hệ thống thông gió phải được bảo trì và thử nghiệm thường xuyên để duy trì tính hiệu quả.
-  Các biện pháp kiểm soát công nghệ như thông gió hoặc cơ giới hóa phải được bảo trì và sửa chữa, gây phơi nhiễm nguy cơ cho người công nhân cơ khí.         

Kiểm soát hành chính

Các biện pháp kiểm soát hành chính không loại trừ được nguy cơ nhưng được sử dụng để hạn chế thời gian phơi nhiễm của từng nguời lao động với nguy cơ. Các biện pháp kiểm soát hành chính phụ thuộc vào hành động của con người mới có hiệu quả.
Có nhiều loại biện pháp kiểm soát hành chính, bao gồm:

- Ÿ  Luân chuyển người lao động từ nhiệm vụ có độc hại đến nhiệm vụ không độc hại để giảm thời gian phơi nhiễm;
- Ÿ  Tăng số lần nghỉ giữa ca nhằm giảm thiểu thời gian phơi nhiễm;
- Ÿ  Thay đổi kế hoạch làm việc, nếu có thể: như thời gian biểu làm việc với nguy cơ stress về nhiệt độ vào buổi tối khi nhiệt độ ngoài trời hạ thấp;
- Ÿ  Luôn giữ khu vực làm việc không bị bừa bãi (sắp xếp đồ đạc) nhằm giảm thiểu khả năng tai nạn và hỏa hoạn; bảo vệ công cụ và thiết bị; và tránh tích tụ vật liệu độc hại;
-  Tăng cường thiết bị và thực hành vệ sinh cá nhân để người lao động rửa tay rửa mặt trước khi ăn uống, cấm sử dụng thực phẩm tại nơi làm việc, và cho phép người lao động tắm sau ca làm việc và để quần áo nhiễm bẩn tại nơi làm việc;
-  Tăng cường đào tạo người lao động và thực hành công việc nhằm nâng cao khả năng của người lao động trong việc nhận biết và đánh giá nguy cơ, và tiến hành hành động để bảo vệ họ.
- Tăng thêm thời gian nghỉ thường xuyên.

Các biện pháp hành chính cũng có những bất lợi và vấn đề.
Phơi nhiễm nguy với nguy cơ vẫn tiếp tục xảy ra, nhưng thời gian phơi nhiễm của người lao động được giảm đi. Việc luân chuyển công việc làm giảm thời gian phơi nhiễm cho một người lao động, nhưng nó cũng làm tăng số người lao động bị phơi nhiễm. Giống như các quy trình khác liên quan tới con người, sai sót của con người có thể xảy ra và mang lại kết cục là phơi nhiễm với nguy cơ.

Phương tiện bảo vệ các nhân (PTBVCN)



Việc sử dụng phương tiện bảo vệ các nhân  được coi là loại hình yếu nhất trong kiểm soát nguy cơ. PTBVCN nên được sử dụng như phương tiện kiểm soát chính cuối cùng khi không tiến hành được các biện pháp kiểm soát công nghệ và hành chính, hoặc trong điều kiện cấp cứu. 
PTBVCN không loại trừ được nguy cơ hay giảm được thời gian phơi nhiễm. PTBVCN chỉ đơn giản giảm thiểu khối lượng phơi nhiễm có hại bằng cách đưa ra một rào cản giữa nguy cơ và người lao động. Có nhiều yếu tố có thể làm giảm đi tính hiệu quả của rào cản này. PTBVCN hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của con người mới có hiệu quả. 
Có nhiều loại phương tiện bảo vệ các nhân, gồm thiết bị bảo vệ đầu, tai, mắt, hệ hô hấp (thông qua mũi và miệng), bàn tay, cơ thể và bàn chân.

Bất lợi của biện pháp kiểm soát nguy cơ bằng cách sử dụng phương tiện bảo vệ các nhân gồm:

-  Phần lớn phương tiện bảo vệ các nhân hiện có đều được thiết kế theo kích cỡ của người lao động Canada, châu Âu và nước Mỹ, và do đó có thể không vừa khít với người lao động ở những nước khác trên thế giới;
-  PTBVCN phải là loại chuyên dụng cho nguy cơ nhất định;
-  PTBVCN phải được sử dụng đúng quy trình, được kiểm tra thường xuyên, và bảo quản theo đúng trình tự;
-  Một số PTBVCN, như bộ lọc bán mặt nạ có hộp lọc và găng tay, phải được thay thế thường xuyên để luôn là rào cản chống lại nguy cơ;
-  Một số PTBVCN tạo ra nguy cơ riêng của nó đối với sức khỏe và tai nạn, như trong trường hợp stress nhiệt, giảm khả năng nghe và nhìn, giảm khả năng cầm nắm của tay, có tiềm ẩn đối với nhiễm trùng tai và làm cho người lao động khó chịu khi sử dụng những thiết bị cồng kềnh.

Kiểm soát các nguy cơ trong bảo hộ lao động

Trước khi phát hiện và đánh giá được nguy cơ, người lao động chưa thể được bảo vệ. Sau đó, nhiều phương pháp bảo vệ người lao động mới có thể được đưa ra - gọi là “biện pháp kiểm soát”. Có ba loại biện pháp kiểm soát:

- Kiểm soát công nghệ;
- Kiểm soát hành chính;
- Phương tiện bảo vệ các nhân.

Tất cả ba loại biện pháp kiểm soát trên có thể được sử dụng kết hợp với nhau, nhưng ưu tiên bao giờ cũng được dành cho các biện pháp kiểm soát công nghệ trước các biện pháp khác. Các biện pháp hành chính và phương tiện bảo vệ các nhân không nên đưa vào sử dụng, trước khi cố gắng sử dụng các biện pháp kiểm soát công nghệ, hoặc không thể kiểm soát được công nghệ.
Các biện pháp kiểm soát công nghệ:

Các biện pháp kiểm soát công nghệ được coi là tốt nhất bởi vì chúng loại trừ được nguy cơ và khả năng phơi nhiễm của người lao động với nguy cơ đó. Các biện pháp kiểm soát công nghệ trực tiếp giải quyết mối nguy cơ và không phải phụ thuộc vào hành động của người lao động mới có thể có hiệu quả. 

Các biện pháp kiểm soát công nghệ bao gồm:
Ÿ* Thiết kế lại quy trình, như:
-   Thay thế mô-tơ dùng xăng bằng mô-tơ dùng điện để tránh khí thải;
-   Lắp đặt thiết bị cấp nguyên liệu tự động để bảo vệ bàn tay;
-   Sử dụng phương pháp làm ướt để giảm mức độ gây bụi;
*  Cơ khí hóa quy trình, như: hệ thống dây chuyền để loại trừ khả năng gây bụi do xúc bằng xẻng;
* Thay thế các sản phẩm có nguy cơ bằng những sản phẩm an toàn hơn, như:
- Sử dụng hóa chất ít độc hại, ít bụi và ít bay hơi hơn;
- Thay thế các thiết bị cũ kỹ bằng thiết bị mới hơn có lắp sẵn hệ thống bảo vệ;
* Cách ly quy trình hoặc cách ly người lao động khỏi quy trình, như:
-  Lắp đặt hệ thống chống ồn cho những thiết bị gây ồn;
-  Xây phòng điều khiển nơi người lao động có thể được bảo vệ chống lại tiếng ồn, nhiệt độ và giải phóng hơi độc hại;

*Lắp đặt “hệ thống thông gió cục bộ”, như:
-  Hệ thống thông khí lắp đặt ngay trên thùng cấp nhiên liệu;
-  Hàn bàn máy và trạm làm việc để loại trừ ngay nguy cơ có trong không khí ngay từ nơi chúng được tạo ra.

Lợi thế của các biện pháp kiểm soát công nghệ là ở chỗ chúng loại trừ được nguy cơ và khả năng phơi nhiễm của người lao động với nguy cơ đó. Nhưng có một số bất lợi hoặc vấn đề của kiểm soát công nghệ. Các bất lợi đó gồm:
-  Các biện pháp kiểm soát công nghệ có thể rất đắt tiền và nhà sử dụng lao động trong doanh nghiệp nhỏ thấy khó khăn trong lắp đặt;
-  Một số nguy cơ không có giải pháp công nghệ vào thời điểm này;
-  Lắp đặt hệ thống rào cản hoặc cách ly nguy cơ không loại trừ được mối nguy cơ đó, nên người lao động vẫn có thể phơi nhiễm trong trường hợp tai nạn hoặc rò rỉ;
-  Việc thay thế một hóa chất hay một cỗ máy mới sẽ làm cho người lao động phơi nhiễm với nguy cơ mới;
-  Các hệ thống thông gió phải được bảo trì và thử nghiệm thường xuyên để duy trì tính hiệu quả.
-  Các biện pháp kiểm soát công nghệ như thông gió hoặc cơ giới hóa phải được bảo trì và sửa chữa, gây phơi nhiễm nguy cơ cho người công nhân cơ khí.
         
Kiểm soát hành chính

Các biện pháp kiểm soát hành chính không loại trừ được nguy cơ nhưng được sử dụng để hạn chế thời gian phơi nhiễm của từng nguời lao động với nguy cơ. Các biện pháp kiểm soát hành chính phụ thuộc vào hành động của con người mới có hiệu quả.
Có nhiều loại biện pháp kiểm soát hành chính, bao gồm:
- Ÿ  Luân chuyển người lao động từ nhiệm vụ có độc hại đến nhiệm vụ không độc hại để giảm thời gian phơi nhiễm;
- Ÿ  Tăng số lần nghỉ giữa ca nhằm giảm thiểu thời gian phơi nhiễm;
- Ÿ  Thay đổi kế hoạch làm việc, nếu có thể: như thời gian biểu làm việc với nguy cơ stress về nhiệt độ vào buổi tối khi nhiệt độ ngoài trời hạ thấp;
- Ÿ  Luôn giữ khu vực làm việc không bị bừa bãi (sắp xếp đồ đạc) nhằm giảm thiểu khả năng tai nạn và hỏa hoạn; bảo vệ công cụ và thiết bị; và tránh tích tụ vật liệu độc hại;
-  Tăng cường thiết bị và thực hành vệ sinh cá nhân để người lao động rửa tay rửa mặt trước khi ăn uống, cấm sử dụng thực phẩm tại nơi làm việc, và cho phép người lao động tắm sau ca làm việc và để quần áo nhiễm bẩn tại nơi làm việc;
-  Tăng cường đào tạo người lao động và thực hành công việc nhằm nâng cao khả năng của người lao động trong việc nhận biết và đánh giá nguy cơ, và tiến hành hành động để bảo vệ họ.
- Tăng thêm thời gian nghỉ thường xuyên.

Các biện pháp hành chính cũng có những bất lợi và vấn đề.
Phơi nhiễm nguy với nguy cơ vẫn tiếp tục xảy ra, nhưng thời gian phơi nhiễm của người lao động được giảm đi. Việc luân chuyển công việc làm giảm thời gian phơi nhiễm cho một người lao động, nhưng nó cũng làm tăng số người lao động bị phơi nhiễm. Giống như các quy trình khác liên quan tới con người, sai sót của con người có thể xảy ra và mang lại kết cục là phơi nhiễm với nguy cơ.

Phương tiện bảo vệ các nhân (PTBVCN)

Việc sử dụng phương tiện bảo vệ các nhân  được coi là loại hình yếu nhất trong kiểm soát nguy cơ. PTBVCN nên được sử dụng như phương tiện kiểm soát chính cuối cùng khi không tiến hành được các biện pháp kiểm soát công nghệ và hành chính, hoặc trong điều kiện cấp cứu. 

PTBVCN không loại trừ được nguy cơ hay giảm được thời gian phơi nhiễm. PTBVCN chỉ đơn giản giảm thiểu khối lượng phơi nhiễm có hại bằng cách đưa ra một rào cản giữa nguy cơ và người lao động. Có nhiều yếu tố có thể làm giảm đi tính hiệu quả của rào cản này. PTBVCN hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của con người mới có hiệu quả. 

Có nhiều loại phương tiện bảo vệ các nhân, gồm thiết bị bảo vệ đầu, tai, mắt, hệ hô hấp (thông qua mũi và miệng), bàn tay, cơ thể và bàn chân.

Bất lợi của biện pháp kiểm soát nguy cơ bằng cách sử dụng phương tiện bảo vệ các nhân gồm:

-  Phần lớn phương tiện bảo vệ các nhân hiện có đều được thiết kế theo kích cỡ của người lao động Canada, châu Âu và nước Mỹ, và do đó có thể không vừa khít với người lao động ở những nước khác trên thế giới.
-  PTBVCN phải là loại chuyên dụng cho nguy cơ nhất định;
-  PTBVCN phải được sử dụng đúng quy trình, được kiểm tra thường xuyên, và bảo quản theo đúng trình tự;
-  Một số PTBVCN, như bộ lọc bán mặt nạ có hộp lọc và găng tay, phải được thay thế thường xuyên để luôn là rào cản chống lại nguy cơ;
-  Một số PTBVCN tạo ra nguy cơ riêng của nó đối với sức khỏe và tai nạn, như trong trường hợp stress nhiệt, giảm khả năng nghe và nhìn, giảm khả năng cầm nắm của tay, có tiềm ẩn đối với nhiễm trùng tai và làm cho người lao động khó chịu khi sử dụng những thiết bị cồng kềnh.

Chấn chỉnh công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động

Ngày 05 tháng 06 năm 2012, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã có Công văn số 1820/LĐTBXH-TTr về việc chấn chỉnh công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động nhằm chủ động phòng ngừa và hạn chế các tai nạn, sự cố trong thời gian tới.


Theo đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị các Bộ, Ngành, Địa phương, Doanh nghiệp, Cơ sở sản xuất kinh doanh cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1. Các Bộ, Ngành chỉ đạo các doanh nghiệp thuộc ngành và lĩnh vực quản lý tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động như khai thác mỏ, xây dựng, hóa chất và sử dụng các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.

2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan, tổ chức trên địa bàn như sau:

2.1. Tổ chức kiểm tra đánh giá tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp để phân tích các nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động, đặc biệt là các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, đề ra các giải pháp tích cực nhằm giảm thiểu tai nạn lao động.

2.2. Chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các sở, ngành liên quan tập trung tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, huấn luyện cho người lao động, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp khai thác mỏ, xây dựng, hóa chất …. về các quy định của pháp luật lao động, các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình và biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động.

2.3. Chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Công an và các ngành liên quan phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tăng cường công tác quản lý nhà nước theo lĩnh vực của ngành về công tác an toàn, vệ sinh lao động theo nội dung Chỉ thị số 18/2008/CT-TTg ngày 06 tháng 6 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động khai thác các mỏ đá nhằm đảm bảo an toàn trong khai thác.

2.4. Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương quy hoạch lại các kho vật liệu nổ công nghệp (VLNCN) thành các cụm kho, giảm các kho nhỏ lẻ dưới 5 tấn; dừng cấp mới, cấp tiếp hoặc thu hồi giấy phép sử dụng VLNCN đối với các đơn vị không thực hiện đúng quy định về an toàn trong bảo quản, vận chuyển, sử dụng và tiêu hủy VLNCN; khuyến khích các đơn vị thuê dịch vụ nổ mìn với đơn vị có chuyên môn, trình độ kỹ thuật cao đảm bảo an toàn, an ninh trật tự.

2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong khai thác khoáng sản, trong xây dựng công trình, sử dụng các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và các chế độ đối với người lao động. Tổ chức thanh tra liên ngành do ngành Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp các ngành liên quan tiến hành thanh tra thường xuyên các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, trong đó cần trú trọng tới các ngành, nghề có nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao.

2.6. Xem xét xử lý các đơn vị để xảy ra tai nạn lao động, nhất là các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng; xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tai nạn lao động.

3. Các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương chủ động thông tin, tuyên truyền về công tác đảm bảo an toàn – vệ sinh lao động của các địa phương, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh.

4. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tăng cường công tác tự kiểm tra an toàn, vệ sinh lao động. Tổ chức đào tạo, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; phổ biến, hướng dẫn, huấn luyện các quy định của pháp luật lao động, quy trình bảo hộ lao động và biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động trong doanh nghiệp.
                                                                                                     Nguồn: sldtbxh.hochiminhcity.gov.vn

Góp ý sửa đổi dự thảo : Bảo vệ người lao động

Nhiều người lao động làm việc ở các doanh nghiệp nhỏ chưa được tham gia BHXH (ảnh minh họa)

Người lao động còn thiệt thòi:

Những năm qua, Luật BHXH thực hiện chưa nghiêm, khiến cho quyền lợi của NLĐ không được đảm bảo. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, đến hết tháng 9, có 37 DN nợ BHXH 56,95 tỉ đồng, khiến cho hàng ngàn CNLĐ không được tham gia hoặc không được đóng đủ BHXH.

Anh Phùng Văn Trình - 32 tuổi, làm việc cho một DN ở KCN Khai Quang được gần 10 năm - khi hỏi đến BHXH thì “không biết mình có được tham gia hay chưa và nếu có thì đã được đóng bao lâu”.

Chị Vũ Thị Huyền Trang - CN ở KCN Nam Sách (Hải Dương) - tỏ ra bất bình khi biết, dù đã làm việc liên tục hơn 5 năm nhưng chưa được tham gia BHXH bởi DN chỉ đóng BHXH cho hơn 60% số LĐ.

Còn chị Bùi Thị Hương - chấm dứt hợp đồng LĐ ở nơi làm việc cũ để chuyển đến làm việc cho Cty Samsung Electronic VN (KCN Yên Phong, Bắc Ninh) - nhưng sau hơn 6 tháng vẫn chưa được chốt sổ BHXH và luôn nhận được câu trả lời của DN là “chờ một thời gian nữa”.

Một CBCĐ của KCN Khai Quang (Vĩnh Phúc) cho biết, tổ chức CĐ với vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ đều nắm được tình hình.

Nhưng do cơ chế hiện nay nên chỉ biết có ý kiến, ra văn bản đề nghị các DN phải đóng BHXH đầy đủ và giải quyết các chế độ, chính sách theo luật định. Rõ ràng, khi quyền bị bó hẹp, rất khó cho tổ chức CĐ đấu tranh hiệu quả hơn trong việc bảo vệ NLĐ.

Tăng quyền và trách nhiệm cho CĐ

Sau buổi làm việc với lãnh đạo Bộ LĐTBXH, Tổng LĐLĐVN đã tổng hợp những ý kiến tham gia góp ý dự thảo Luật BHXH (sửa đổi). Theo dự thảo, Luật BHXH dành riêng Điều 13 để quy định về “Quyền và trách nhiệm của tổ chức CĐ”. Nhiều ý kiến của CBCĐ các cấp đề nghị bổ sung thêm
trách nhiệm của CĐ là “Tham gia thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thi hành pháp luật về BHXH”.

Thực tế từ trước đến nay, CĐ chỉ được tham gia (cùng các cơ quan chức năng) kiểm tra, giám sát việc thi hành, chứ chưa có quyền thanh tra thi hành Luật BHXH. Vì thế, dù biết rõ vi phạm, nhưng CĐ chưa có biện pháp hữu hiệu góp phần lập lại trật tự trong vấn đề này.

Ngoài ra, một số ý kiến đóng góp vào Điều 16 “Về các hành vi bị nghiêm cấm” khi đề nghị bổ sung, sửa đổi điểm d, khoản 1 thành “Đóng không đúng đối tượng và không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH”; đề nghị bổ sung điểm e, khoản 4 “Không trả sổ BHXH đúng thời hạn cho NLĐ khi NLĐ không còn làm việc tại DN nữa”.

Một số ý kiến tham gia vào Điều 17 “Về quyền của NLĐ” đề nghị bổ sung thêm quyền của NLĐ là “Được tham gia BHXH theo quy định của luật này” do thực tế nhiều người thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng không được đóng BHXH do DN không làm thủ tục đăng ký BHXH.

Tham gia ý kiến vào Điều 20 “Về trách nhiệm của NSDLĐ”, một số ý kiến đề nghị bổ sung thêm khoản 1 là “khai báo đầy đủ số NLĐ mà DN đã ký hợp đồng LĐ trước khi NLĐ bắt đầu làm việc và lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, đóng và hưởng BHXH”; đề nghị sửa đổi khoản 8 là “Cung cấp thông tin về việc đóng BHXH của NLĐ hàng quý hoặc 6 tháng một lần và khi có yêu cầu của NLĐ hoặc tổ chức CĐ”.

Đây đều là những ý kiến chắt lọc từ thực tế góp phần khắc phục những “kẽ hở” của luật và trên hết, tổ chức CĐ mong muốn tham gia những ý kiến trên để bảo vệ NLĐ tốt hơn.
Nguồn: baomoi.com

Ý thức của người lao động trong công tác an toàn bảo hộ lao động

Ý thức của người lao động trong công tác an toàn bảo hộ lao động

Trưởng kíp vận hành lò hơi, Công ty Nhiệt điện Ninh Bình

Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, để phát triển bền vững, tăng năng suất lao động, vấn đề đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là phải quan tâm và công tác bảo hộ lao động đảm bảo an toàn cho người lao động. Song, cùng với những biện pháp ATVSLĐ được triển khai thực hiện, thì quan trọng nhất vẫn là ý thức của người lao động đối với công tác này. Anh Bùi Văn Dũng - Trưởng kíp vận hành lò hơi, Công ty Nhiệt điện Ninh Bình

Trong bảo hộ lao động: Tính tự giác phải được đặt lên hàng đầu

Công nhân chúng tôi thường xuyên trực vận hành các thiết bị có nhiệt độ và áp suất cao, vì vậy, Công ty đã trang bị đầy đủ bảo hộ lao động, các trang thiết bị phục vụ cho công tác an toàn -vệ sinh lao động. Mỗi người công nhân chúng tôi đều hiểu rằng, công tác an toàn- vệ sinh lao động là rất cần thiết, trước hết là phục vụ cho chính mình trong việc thao thác, vận hành các trang thiết bị của Nhà máy. Để các “dây chuyền” sản xuất của Nhà máy được đảm bảo an toàn, mỗi người công nhân cần phải có tính tự giác cao trong việc chấp hành các quy trình, quy phạm đã đề ra.

Từ thực tiễn, chúng tôi thấy: Công ty rất quan tâm đến công tác an toàn - vệ sinh lao động. Gần đây, việc hiện đại hóa, chuyên môn hóa và nhất là cổ phần hóa đã đặt ra những yêu cầu cao về công tác an toàn vệ sinh lao động trong Nhà máy. Chính vì vậy, người công nhân phải đặt tính tự giác chấp hành kỷ luật trong lao động lên hàng đầu. Có như vậy thì công tác an toàn - vệ sinh lao động mới luôn được đảm bảo.

Anh Dương Đình Trung - Phân xưởng Sửa chữa Điện Tự động, Công ty Thuỷ điện Ialy:

Được cấp phát đầy đủ, kịp thời phương tiện bảo vệ cá nhân:

Thực hiện tốt công tác an toàn BHLĐ cũng chính là để bảo vệ sức khoẻ và tính mạng cho chính bản thân mình, do đó ngoài tinh thần trách nhiệm còn đòi hỏi tính tự giác cao ở mỗi người lao động và quy chế chặt chẽ. Trong điều kiện làm việc ở Công ty chịu nhiều tác động tiêu cực của môi trường như: Nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn cao..., chúng tôi luôn được cấp phát đầy đủ, kịp thời phương tiện bảo vệ cá nhân: Quần áo, mũ, giầy BHLĐ, găng tay, khẩu trang, kính chống bụi, nút tai chống ồn, ủng chống dầu axit, mặt nạ hàn và quần áo chống điện từ trường... nên đã tạo sự an tâm cho chúng tôi khi làm bất cứ việc gì phân xưởng giao. Hằng năm, ngoài việc được kiểm tra sức khoẻ định kỳ và chữa bệnh kịp thời, chúng tôi còn được Công ty cho đi nghỉ dưỡng để phục hồi sức khoẻ, nhờ vậy, ngoài hiệu suất làm việc cao chúng tôi còn đảm bảo an toàn tuyệt đối cả con người và thiết bị.

Anh Nguyễn Ngọc Phước - Đội Truyền tải điện Đà Nẵng (Công ty Truyền tải điện 2)

Phấn đấu hạn chế thấp nhất nguy cơ xảy ra tai nạn

Anh em CBCNV Truyền tải luôn được sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo Công ty về công tác an toàn. Lực lượng kỹ sư công nhân được Công ty trang bị đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động, cơ sở vật chất để đảm bảo tốt nhất về công tác an toàn trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Bản thân chúng tôi luôn nhận thức được rằng: Muốn có hiệu quả tốt trong lao động thì công tác an toàn phải được thực hiện một cách cụ thể, chu đáo chứ không thể chung chung, hình thức. Đơn vị thường xuyên tổ chức cho công nhân học tập quy trình an toàn điện, quy phạm kỹ thuật điện, tập huấn công tác BHLĐ - PCCN, làm quen với các thiết bị mới. Mạng lưới an toàn vệ sinh viên là lực lượng thay mặt đơn vị thường xuyên nhắc nhở từng lao động phải thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động cũng như thực hiện đúng quy trình an toàn điện trong quá trình kiểm tra, sửa chữa đường dây. Bên cạnh đó, Đội Truyền tải điện Đà Nẵng còn phân công và các nhóm thực hiện công việc theo phiếu công tác. Việc làm tốt công tác an toàn chính là để hạn chế đến mức thấp nhất các nguy cơ có thể xảy ra cho anh em công nhân. 
                                                                                                                                     Tạp chí điện lực

Để bạn có một bộ quần áo bảo hộ lao động như ý

Quần áo bảo hộ lao động là một loại trang phục giành riêng cho những người lao động đặc thù trong các lĩnh vực như hóa chất, xây dựng, cơ khí, hầm mỏ, vệ sinh môi trường, y tế… nhằm hạn chế những tác động bên ngoài, giảm tác dụng của các chất gây hại đối với công nhân và những người đang làm việc trong môi trường này. Do đó quần áo bảo hộ là phần tất yếu không thể thiếu đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng và thế hiện sự chăm chút quan tâm của doanh nghiệp công ty đối với nhân viên của mình.
 Để có được những bộ quần áo bảo hộ lao động chất lượng đáp ứng hết những yêu cầu thực tế bạn nên tham khảo những điều cần biết khi chọn quần áo bảo hộ lao động dưới đây.
Trước tiên, hãy tham khảo ý kiến của các nhân viên- người trực tiếp mặc những bộ quần áo này, để lắng nghe và nắm bắt được nhu cầu mong muốn của nhân viên muốn có ở quần áo bảo hộ. Chỉ có họ mới biết được trang phục bảo hộ lao động cần có những gì và không cần gì trên quần áo để vừa tiện dụng mà đảm bảo an toàn theo tính chất công việc của họ.
Mỗi công việc khác nhau có yêu cầu về quần áo khác nhau. Bạn nên chú ý ghi chép, hệ thống lại những đặc điểm cần lưu ý để chọn đồng phục cho phù hợp với từng vị trí công việc. Bên cạnh đó, yếu tố về thời tiết, theo mùa cũng nên được chú trọng để có hoạch định đồng phục thích hợp ứng với từng kiểu thời tiết khí hậu vùng miền.
 Một điểm quan trọng cần lưu ý là, kiểu dáng và màu sắc của bộ quần áo bảo hộ. Màu sắc tươi sáng có thể là một sự lựa chọn mang đến sự nổi bật. Song bạn nên xét đến môi trường làm việc và màu sắc logo thương hiệu mà có sự lựa chọn phù hợp. Về kiểu dáng, đây chính là lúc bạn sử dụng những thông tin, dữ kiện ở bước đầu tiên. Bám sát mong muốn của nhân viên, tính chất công việc của họ mà đề xuất mẫu thiết kế quần áo bảo hộ thích hợp, tiện dụng cho từng vị trí, làm sao để bộ đồng phục giúp cho người mặc cảm thấy thoải mái nhất và hỗ trợ đắc lực về mặc an toàn cũng như thuận tiện trong quá trình lao động cho người sử dụng. Thiết kế nên đơn giản, hạn chế tối đa cách điệu rườm rà đính kèm quá nhiều phụ kiện gây vướng víu.
Chọn chất liệu cho quần áo bảo hộ, thường là vải kaki Nam Định, kaki Thành Công, kaki băng zin… có độ bền cao, được sử dụng cho công nhân trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và xây dựng. Đây là loại vải dầy dặn, độ bền cao nhưng vẫn thoáng mát đảm bảo cho người lao động khi sử dụng cảm thấy dễ chịu và thuận tiện trong khi làm việc.
Chất lượng đồng phục bảo hộ lao động luôn phải được đảm bảo tuyệt đối. Bạn nên cân nhắc xem xét về lợi ích của việc đặt may quần áo bảo hộ cao cấp cho công nhân. Với bộ quần áo bảo hộ lao động độ bền bỉ sẽ rất cao từ chất liệu vải đến chất lượng kỹ thuật may đẹp, chắc chắn. Những yếu tố cơ bản này giúp cho quần áo phát huy hết tác dụng bảo vệ an toàn tuyệt đối cho người mặc làm việc trong môi trường khắc nghiệt nhất. Bên cạnh đó, đồng phục bảo hộ chất lượng còn tiết kiệm chi phí thay mới đồng phục nhiều lần.
Ngoài ra, bạn cũng không nên quên rằng đồng phục bảo hộ lao động không chỉ đáp ứng tính tiện dụng, an toàn trong công việc mà cũng như bao đồng phục khác góp phần làm gia tăng giá trị thương hiệu của công ty bạn. Hình ảnh đồng phục bảo hộ luôn tạo được ấn tượng với tất cả mọi người khi họ nhìn thấy và dễ dàng nhớ đến. Đây là cơ hội để quảng bá hình ảnh chuyên nghiệp của công ty bạn. Do đó nên đưa các đặc điểm về logo thương hiệu vào quần áo bảo hộ một cách tinh tế và thẩm mĩ nhất.
Nguồn: 

Thẩm mỹ viện Thanh Quỳnh luôn là đối tác bền vững của công ty

Công ty bảo hộ lao động DOHAN được biết đến với nhiều năm liền cung cấp các sản phẩm bảo hộ lao động như quần áo bảo hộ lao động, kính bảo hộ lao động, giầy ủng bảo hộ lao động….Bên cạnh đó công ty còn cung cấp các sản phẩm dành riêng cho y tế và phòng thí nghiệm, nghiên cứu khoa học.
Một trong những khách hàng lớn thường xuyên sử dụng sản phẩm dịch vụ của công ty bảo hộ DOHAN đó là thẩm mỹ viện Thanh Quỳnh. Với các trang thiết bị được cung cấp thường xuyên như: áo công nghệ - blu, quần áo phòng sạch, và găng tay y tế.

Quần áo công nghệ - Blu được thẩm mỹ viện Thanh Quỳnh đặt mua để trang bị đồng phục cho đội ngũ nhân viên chăm sóc cũng như y bác sĩ của Spa. Quần áo phòng sạch được thiết kế để sử dụng trong phòng mổ, phòng điều trị cách ly nên luôn đảm bảo điều kiện tiêu chuẩn sạch, tiệt trùng. Đặc biệt găng tay y tế được sử dụng trong phẫu thuật hoặc điều trị cho bệnh nhân luôn đảm bảo tiêu chuẩn của ngành y tế.
Tất cả các sản phẩm của công ty bảo hộ DOHAN luôn được thẩm mỹ viện Thanh Quỳnh đánh giá cao về chất lượng cũng như sự phục vụ nhiệt tình.

Găng tay y tế thực phẩm chất lượng



Găng tay y tế được sử dụng nhiều trong các hoạt động thường ngày đến công việc chuyên môn. Sản phẩm găng tay đều được bán rất nhiều trên thị trường nhưng đều là những sản phẩm kém chất lượng hoặc không đúng quy cách thậm chí nó còn ảnh hưởng xấu đến da tay.
Những dòng sản phẩm găng tay y tế thực phẩm được bán tại công ty bảo hộ lao động DOHAN với nhiều kiểu dáng mẫu mã cho bạn lựa chọn theo mục đích sử dụng như:

Găng taycao su y tế mỏng liên doanh Malaysia:

Sản phẩm được đóng số lượng lớn trong hộp, làm từ cao su nguyên chất nên co giãn tốt và rất an toàn với môi trường.

Găng tay ytế mỏng, dài chống dầu:

Sản phẩm được thiết kế mỏng, dài ôm sát bàn tay, tiện sử dụng trong công việc, giúp cho da tránh tiếp xúc với những tác nhân có hại từ môi trường làm việc
Tham khảo thêm các sản phẩm tại găng tay bảo hộ lao động tại công ty bảo hộ lao động DOHAN

Quần áo bảo hộ lao động chống cháy chất lượng

Môi trường làm việc nắng nóng, ảnh hưởng nhiệt độ từ môi trường tự nhiên và làm việc sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động cũng như hiệu suất công việc. Chính vì vậy việc trang bị quần áo bảo hộ lao động là rất cần thiết. Nhưng để mua được sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý thì không phải dễ vì hiện nay quần áo bảo hộ lao  động đang được bán tràn lan không có kiểm định của các cơ quan chức năng. Bởi lẽ đó mà công ty bảo hô lao động DOHAN cung cấp các sản phẩm bảo hộ lao động. như quần áo bảo hộ lao động, kính bảo hộ lao động, giầy ủng bảo hộ lao động.
Những sản phẩm quần áo bảo hộ lao động mà công ty đang bán rất chạy và được nhiều khách hàng quan tâm.

Quần áo cao su đen chống hóa chất, acid:

 

Sản phẩm được sản xuất từ Trung Quốc, với nguồn gốc và nơi sản xuất rõ ràng. Được làm từ cao su tổng hợp có tính nắng chống hóa chất, acid tốt.

Quần áo chất cao su tráng:

 

Sản phẩm được thiết kế với lớp cao su tráng chống hóa chất và acid tốt, sản xuất tại Việt Nam. Sản phẩm có môt màu xanh nhũ duy nhất, mang đặc trưng của nguyên liệu làm ra nó.
Về giá các sản phẩm bảo hộ lao động, quý khách hàng có thể tham quan qua gian hàng của công ty hoặc liên hệ với công ty để biết thêm chi tiết.

Hotline:

0904809678
0439939982

Skype Me™!

Popular Post

Cung cấp bởi Blogger.